Thư pháp – một nét đẹp văn hóa dân tộc

Những ai đã qua những năm tháng cấp 3 ắt hẳn là sẽ còn nhớ đến khung cảnh ông Huấn Cao cho chữ viên quản ngục trước giờ hành hình trong tác phẩm Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân). Những con chữ vuông vức được viết trên hai tấm lụa trắng thực đẹp. Đó chính là nghệ thuật thư pháp, một nét văn hóa truyền thống lâu đời của dân tộc ta.

Thư pháp bắt nguồn từ đất nước Trung Hoa cổ xưa, với chữ Hán tượng hình. Do đó, các đất nước nằm trong vùng ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam đều có thư pháp, chỉ khác nhau về tên gọi. Trung Quốc có rất nhiều danh sĩ nổi tiếng viết thư pháp đẹp, đặc biệt là Vương Hi Chi (330 – 361) đã được người đời phong là “Thảo thánh”. Thư pháp được truyền vào Việt Nam từ thời kì Bắc thuộc cùng với chữ Hán. Từ đó đến nay, đã có biết bao nho sĩ nổi tiếng viết chữ đẹp như Nguyễn Nghiễm, Mạc Đĩnh Chi, Cao Bá Quát, Trương Hán Siêu… Không chỉ dùng chữ Hán, ông cha ta còn sáng tạo chữ Nôm – một loại chữ đã đóng vai trò truyền tải biết bao giá trị văn hóa của nước nhà cho các thế hệ sau.

Kết quả hình ảnh cho Thư pháp – môn nghệ thuật có lịch sử lâu đời

Thư pháp – môn nghệ thuật có lịch sử lâu đời

Để viết thư pháp, bạn cần có “văn phong tứ bảo”, bao gồm: bút long, nghiên mực, mực tàu và giấy. Thư pháp được coi là một bộ môn nghệ thuật cao quý, thể hiện khí chất và tính cách của người cầm bút. Để trở thành một thư gia, bạn không chỉ phải viết chữ đẹp, mà còn phải có kiến thức sâu rộng và khả năng cảm thụ, thẩm mỹ. Một tác phẩm thư pháp cũng được đánh giá rất khắt khe với 3 tiêu chí: đường nét, bố cục và hồn cốt của tác phẩm.

Thường có câu “nét chữ nết người”, chữ viết sẽ nói lên tính cách của người viết. Rèn thư pháp cũng là rèn nhân cách. Cái đẹp của chữ có thể rèn giũa tâm hồn, răn dạy con người nên dù là người thực hành thư pháp hay người chơi thư pháp đều có thể qua những con chữ đó mà học làm người. Một thú chơi tao nhã, thể hiện cả tâm, ý, khí và lực của người cầm bút, cũng như hồn của chữ.

Thư pháp Việt Nam chia làm 2 dòng chính là thư pháp Hán – Nôm và thư pháp chữ Quốc ngữ. Dòng Hán – Nôm đã có từ lâu đời nhưng thư pháp chữ Quốc ngữ mới xuất hiện kể từ sau khi chữ Quốc ngữ ra đời. Thư pháp chữ Hán của Việt Nam dù có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng vẫn có những nét riêng khác biệt: mềm mại mà không yếu đuối, nét chữ bay bướm nhưng vẫn sâu lắng, chừng mực. Thể hiện nền văn hóa Việt mộc mạc, giản dị, gần gũi và khiêm tốn. Thư pháp Quốc ngữ thì khác với chữ Hán, không nằm trong khuôn khổ mà tự do, phá cách nhiều hơn. Chữ Quốc ngữ không phải chữ tượng hình nên thường người viết phải khéo léo biến tấu nó thành những hình vẽ khác nhau theo ý nghĩa muốn biểu đạt. Hiện dòng thư pháp này có 5 kiểu chữ viết: chân tự (chân phương), biến tự (cách điệu), cuồng thảo (cá biệt), mộc bản và mô phỏng.

Kết quả hình ảnh cho Chữ thư pháp Quốc ngữ

Chữ thư pháp Quốc ngữ

Vào những năm đầu thế kỷ 20, chữ Quốc ngữ xuất hiện, chữ Hán Nôm không được sử dụng nữa, thư pháp tưởng chừng đã biến mất. Nhưng theo mạch ngầm của dòng chảy văn hóa Việt, thư pháp dần được khôi phục với sự kết hợp nghệ thuật truyền thống với chữ viết hiện đại phương Tây. Hẳn các bạn ít nhiều cũng vẫn còn nhớ các câu thơ: “Mỗi năm hoa đào nở/ Lại thấy ông đồ già/ Bày mực tàu giấy đỏ/ Trên phố đông người qua”. Thường vào dịp đầu xuân năm mới, người ta sẽ đi xin chữ thư pháp về treo trong nhà để cầu bình an, tài lộc cũng như để răn dạy bản thân và con cháu trong nhà. Tuy ngày nay đã hiện đại hơn rất nhiều, nhưng thú chơi thư pháp vẫn không mai một.

Có thể nói thư pháp đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa Việt. Dù thời đại có đổi thay, thư pháp vẫn luôn giữ nguyên được nét thanh tao và giá trị của nó.

Rate this post

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *